TIẾNG NHẬT NHA TRANG

Giảng viên: Phạm Nguyên Phương Mai

CHUYÊN CUNG CẤP DỊCH VỤ:


dẠY HỌC TIẾNG NHẬT TỪ MỞ LÒNG ĐẾN NÂNG CAO

Mở các lớp tiếng Nhật cơ bản đến nâng cáo tại Cam Đức; Cam Lâm, Khánh Hoà.

Học viên ngoài ra còn được trải nghiệm chia sẻ văn hoá Nhật Bản và kinh nghiệm học thi tiếng Nhật.

Lớp học tiếng Nhật tại Cam Lâm: 

Địa chỉ: 395 Trường Chinh, TT Cam Đức, H Cam Lâm, Tỉnh Khánh Hoà

Xem thêm các lớp học tại mục Khoá Học


Dịch thuật tài liệu tiếng nhật

Nhận dịch tài liệu Việt – Nhật ; Nhật – Việt hoặc Nhật – Anh và Anh – Nhật.

Phí dịch vụ tính theo khối lượng công việc.


Sách giáo trình tiếng nhật

Cung cấp giáo trình tiếng Nhật chọn lọc. Giao nhận toàn quốc.

NHẬN XÉT CỦA HỌC VIÊN


“Giáo viên ở đây rất vui vẻ hoà đồng và rất tận tình. Không những cách dạy mà cô còn giới thiệu đến những bộ sách hay. hướng dẫn những cách học nhanh nhớ và rèn kỉ năng giao tiếp tiếng nhật tốt để có cách nghe tôt hơn.”

Nguyễn Thị Hoài Thu – Học viên

Tiếng Nhật Nha Trang là một lựa chọn tốt cho các bạn có nhu cầu muốn học tiếng Nhật và nơi giúp bạn chuẩn bị hành trang tốt cho cuộc sống du học.

Phương Trang Đặng – Học viên

GIỚI THIỆU VỀ TIẾNG NHẬT

Năm 2019, dân số Nhật Bản đã đạt mức 126,14 triệu người. Hầu hết dân số đều sử dụng chung một ngôn ngữ. Điều này nghĩa là tiếng Nhật là thứ ngôn ngữ phổ biến thứ 9 trên thế giới xét về số lượng người sử dụng nó. Tuy vậy, tiếng Nhật lại hiếm phổ biến bên ngoài nước Nhật.

Có rất nhiều lý thuyết về nguồn gốc của tiếng Nhật. Một số học giả cho rằng tiếng Nhật có liên quan đến ngôn ngữ Altaic như của Thổ Nhĩ Kỳ hay Mông Cổ và ngữ pháp tương đồng với tiếng Hàn.               

Hệ thống cách viết của tiếng Nhật bắt nguồn từ Trung Quốc, mặc dù cách nói thì lại hoàn toàn khác nhau. Sau khi cách viết Trung Quốc được ra đời vào khoảng thế kỷ thứ 5 thứ 6, nó đã bị thay thế bằng 2 bảng chữ cái kana (hiragana và katakana) vốn được chuyển thể từ những ký tự của Trung Quốc.

Tuy nhiên, vẫn còn một số lượng lớn các tiếng địa phương vẫn còn được sử dụng trên đất nước Nhật Bản. Tiếng Nhật tiêu chuẩn vốn dựa trên phát âm của vùng Tokyo được phổ biến rộng rãi khắp đất nước nhờ những loại hình truyền thông như radio; tivi và thông qua các bộ phim, tiếng địa phương của người tại vùng Kyoto và Osaka tiếp tục tồn tại và phát triển.   

  • HỆ THỐNG ÂM VỊ

Những người nói tiếng Tây Ban Nha hoặc Italia sẽ thấy việc phát âm các nguyên âm ngắn như a i u e o trong tiếng Nhật sẽ không có khác biệt. Những âm dài hơn như aa ii oo uu ee được phát âm dài gấp đôi những nguyên âm đơn. Sự khác biệt này có ý nghĩa quan trọng, chỉ cần thay đổi cũng khiến ý nghĩa của một từ khác đi. Những phụ âm gồm có k s sh t n h f m y r w g j z b và p. 

Một sự khác biệt rõ rệt giữa tiếng Anh và tiếng Nhật chính là tiếng Nhật không có nhấn âm. Trong khi một vài âm tiếng của tiếng Anh có kể được kéo dài khi phát âm, tiếng Nhật thì các âm tiết được phát âm đều nhau.

  • NGỮ PHÁP

Một cấu trúc ngữ pháp cơ bản của câu tiếng Nhật sẽ gồm: Chủ ngữ + Bổ ngữ + Động từ. Lấy ví dụ: Taro ga ringo o tabeta có nghĩa là ăn một trái táo. Tiếng Nhật thường lược bỏ Chủ ngữ hoặc Bổ ngữ và thậm chí là cả hai khi mà người nói hoặc người viết tin rằng người nghe/ người nói sẽ hiểu được nội dung truyền tải thông qua hoàn cảnh mà câu nói hay đoạn viết được sử dụng. Trong trường hợp đó, câu nói ở trên sẽ trở thành ringo o tabeta (ăn một quả táo) hoặc đơn giản hơn nữa là tabeta (ăn).

Không giống như tiếng Anh, trong tiếng Nhật, trật tự các từ không thể hiện cấu trúc ngữ pháp của danh từ trong câu. Ccấu trúc ngữ pháp trong tiếng Nhật thể hiện ở những tiền tố/ hậu tố theo sau danh từ, quan trọng hơn như là ga, wa, o, ni và no. Tiền tố wa là đặc biệt quan trọng vì nó thể hiện chủ đề của một câu.

  • CÁCH VIẾT TIẾNG NHẬT

Trong khi tiếng Trung sử dụng chữ cái và cách viết thể hiện từng từ, người Nhật đã sáng chế ra 2 dạng chữ viết được gọi là kana để kết hợp với những ký tự trong tiếng Trung. Một số lúc,  chữ viết có cả những ký tự La-tinh hoặc thậm chí là toàn bộ bằng tiếng nước ngoài. Như vậy trong tiếng Nhật hiện đại có đến 4 cách thể hiện: Kanji; 2 bảng chữ Kana phát triển thêm từ Kanji và tiếng nước ngoài.

Từ năm 2010, số chữ cái kanji dạy ở cấp tiểu học và trung học là 2.136 ký tự.

Ký tự tiếng Trung goi là kanji trong tiếng Nhật là những chữ tượng hình bởi vì mỗi chữ thể hiện một vật hoặc một ý nhất định. Một kanji có thể có nhiều hơn một cách phát âm. Trong Nhật ngữ, kanji được sử dụng để viết đồng thời cả từ gốc tiếng Trung và từ tiếng Nhật bản xứ. Không một ai chắc chắn kanji có từ khi nào và bắt đầu ở đâu.

Sở dĩ nói tiếng Nhật là chữ tượng hình bởi vì nó xuất phát từ hình ảnh thực tế. Tức là từ hình dáng cái cây người ta chuyển thành những nét chữ tượng trưng để chỉ cái cây. Qua thời gian những hình ảnh thay đổi và chữ viết kanji cũng dần không còn giống như hình ảnh ban đầu tạo ra nó nữa.

Thêm vào bộ chữ kanji, còn có 2 dạng cách viết chữ tiếng Nhật (Kana). Mỗi bộ kana gồm nhiều âm tiết thường gồm một nguyên âm và phụ âm ví dụ như “ka”. Nếu kết hợp âm tiết với những dấu chấm cụ thể sẽ cho ra một cách phát âm khác nhau.

Một gọi là hiragana bao gồm 49 ký tự được dùng để viết tiếng Nhật bản xứ, tiền tố/ hậu tố và những từ mượn từ tiếng Trung cùng với kanji.

Bảng chữ cái còn lại gọi là katakana cũng có 49 ký tự. Nó chủ yếu được dùng để viết những từ mượn từ tiếng nước khác ngoài Trung Quốc, hoặc để viết nhấn mạnh, và dùng để viết tên khoa học của động – thực vật hoặc tên riêng nước ngoài.

Hai bảng chữ cái kana đều dễ sử dụng hơn là tiếng Trung gốc thứ vốn là nguồn gốc của bảng chữ kana này.

Mặc dù từ điển tiếng Nhật hiện có hơn 50.000 từ, nhưng số từ dùng lại ít hơn số đó khá nhiều. Năm 1946, bộ trưởng bộ giáo dục đã điều chỉnh số lượng ký tự cho mục đích chung và văn phòng còn 1.850 từ, kể cả 996 từ dạy ở cấp tiểu học và trung học. Danh sách này được điều chỉnh lại năm 2010 khi mở rộng thêm thành 2.136 từ. Tuy nhiên, những ấn phẩm khác ngoài báo chí không bị giới hạn bởi số lượng ký tự có trong danh sách này, và nhiều độc giả nắm bắt được ý nghĩa nhiều ký tự hơn số đã được dạy trong những môi trường giáo dục.

Có một quy tắc dành cho người Nhật trong viết theo trình tự từng cột dọc từ trên xuống dưới. Cột đầu tiên nằm ở bên phải của trang giấy. Chính vì vậy trang đầu tiên của sách Nhật thường là trang cuối nếu chiếu theo kiểu sách phương Tây. Một số ngoại lệ dành cho sách khoa học và kỹ thuật khi chữ được viết nằm ngang theo thứ tự từ trái sang phải. Ngày nay, xu hướng in sách theo dòng ngang đang phát triển. Những cuốn sách nay được đọc giống như sách phương Tây (Đọc từ trái sang phải).


  • TỪ MƯỢN

Biển bảo ở Shibuya, Tokyo, Nhật Bản, kết hợp giữa tiếng Nhật, và tiếng anh

Tiếng Nhật có khá nhiều từ mượn của tiếng Trung. Rất nhiều từ chủ yếu chỉ được dùng trong nội địa Nhật Bản mà ít phổ biến ra bên ngoài lãnh thổ. Sự ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc qua nhiều thế kỷ thể hiện qua việc tiếng Trung xuất hiện trong văn thơ. Khi mà nhiều khái niệm mới của Phương Tây được truyền bá vào Nhật Bản vào khoảng thế kỷ thứ 19 và đầu  thế kỷ 20, những từ này được kết hợp bởi những ký tự Trung Quốc và những từ này phổ biến hơn trong ngôn ngữ Nhật Bản hiện đại. Ngày càng có nhiều từ mượn từ tiếng Anh và các thứ thứ tiếng châu âu khác được thêm vào tiếng Nhật. Ngoài ra, việc sử dụng nguyên bản tiếng nước ngoài trong tiếng Nhật cũng ngày một phổ biến ví dụ như từ “volunteer”, “newscaster” … Người Nhật cũng sáng tạo thêm những từ từ tiếng Anh như “nighter” để chỉ những trò chơi buổi tối hay “salaryman” để nói những người làm công hưởng lương. Và xu hướng này còn diễn ra mạnh mẽ hơn thời gian gần đây.

Ngược lại, một số từ tiếng Nhật cũng được nước ngoài mượn lại ví dụ như từ tsunami hay unami; shusi; tofu hay ramen…

  • KÍNH NGỮ

Tiếng Nhật đã phát triển một hệ thống kinh ngữ gọi là keigo, dùng để thể hiện sự tôn trọng dành cho người giao tiếp. Nó đề cập đến những mức độ khác nhau trong phát biểu và những người giỏi sử dụng keigo có một lượng lớn từ ngữ và cách diễn đạt để lựa chọn để thể hiện những mức độ lịch sự mong muốn của mình. Một câu đơn giản có thể có đến hơn 20 cách diễn đạt phụ thuộc vào vị trí của người nói so với người nghe.

Việc quyết định mức độ lịch sự của phát biểu có thể là một thách thức bởi vì mối quan hệ giữa người nói và người nghe được xác định bởi nhiều yếu tố như địa vị xã hội, cấp bậc, tuổi tác, giới tính thậm chí là người có ơn hoặc người mang ơn. Khi mà hai người lần đầu tiên gặp nhau có thể dùng đến những mức độ ngôn ngữ trung dung vì chưa xác định được vị trí địa vị của nhau.

Để giỏi keigo thực sự là không hề đơn giản và trong đó một số người sẽ giỏi hơn phần còn lại. Việc giỏi hay không phụ thuộc vào bạn có sử dụng nhiều hay không nhưng ko cần phai quá lo lắng vì người Nhật ko phải ai cũng nhớ hết keigo. Có vô vàn từ kính ngữ trong từng phần của câu nói – danh từ; động từ; tính từ … Những từ trịnh trọng được dùng khi nói đến những người nghe và cả những thứ gắn liền với họ như người quen, ngôi nhà… Ngược lại, những từ khiêm tốn hơn được dùng để dành cho người nói và những thứ liên quan đến người đó. Nó là một khoảng cách giữa 2 mô thức diễn đạt thái độ tôn trọng dành cho người nghe.

  • TÊN GỌI

Tên của người Nhật bắt đầu với tên gia đình và sau đó là tên riêng của người đó (Trong khi một số tờ báo viết bằng tiếng Anh và tạp chí ở Nhật Bản ghi tên theo kiểu phương tây, ghi tên gia đình trước thường được ưu tiên hơn). Khi gọi một ai đó người ta thường dùng san – từ tương đương với Mr. ; Mrs. (hoặc là Ms.) sau tên gia đình. Hậu tố chan thường được dùng với tên trẻ con và tên bạn thân. Sensei thì thường dùng cho giáo viên hoặc bác sĩ và cũng được đặt sau tên gia đình.

Tên riêng và những ký tự Trung Quốc của nó được lựa chọn dựa theo ý nghĩa tốt đẹp của nó. Một cái tên sẽ là hy vọng mang đến sự may mắn dành cho đứa trẻ đó. Năm 2017, chính phủ đã cho phép tổng cộng 2.999 ký tự được phép dùng để đặt tên riêng.

  • GÕ TIẾNG NHẬT

Mẫu bàn phím cổ của Nhật trước khi có hệ máy chuyển thể từ kana sang Kanji

Gõ tiếng Nhật từng phải sử dụng nhiều máy móc cồng kềnh. Vào năm 1978, lần đầu tiên một hệ thống gõ tiếng Nhật được thương mại hoá cho phép tiếng Nhật được gõ bằng bàn phím (IME). Gõ tiếng Nhật bằng bằng phần mềm xử lý từ thì cả những ký tự kana hoặc chữ cái La-tinh đều được sử dụng. Phần mềm nhập liệu sẽ hiển thị lên ký tự liên quan và cho phép người gõ lựa chọn đúng ký tự của mình.

Nguyên tắc chung của các hệ thống IME là chuyển thể từ cách phát âm trên 2 bảng kana sang kanji. Khi người dùng gõ phát âm kana sẽ hiện ra một list các kanji có thể đúng. Việc của người dùng là lựa chọn kanji mình cần.

Cách hoạt động của một hệ thống IME

Việc sử dụng điện thoại di động (keitai) để gửi tin nhắn hoặc email trở nên rất phổ biến ở Nhật Bản đặc biệt là những người trẻ. Để gửi tin nhắn, phím chữ bàn phím nhỏ của điện thoại được người dùng bấm nhiều lần để lựa chọn ra ký tự kanji phù hợp theo một trình tự quy định trước của bằng chữ kana. Đồng thời người dùng có thể chuyển từ kana sang những ký tự tiếng Trung nếu cần thiết. Đối với việc nhắn tin qua máy tính để bàn có một cách làm thường thấy là dùng từ viết tắt, ký hiệu và cách làm này còn phát triển hơn vì nhắn tin bằng điện thoại di động. Người Nhật có một loại các biểu tượng cảm xúc riêng của mình được biết đến với tên gọi là kaomoji và cũng có nhiều emoji giúp thay thế rất nhiều điều cần diễn tả qua từ ngữ.

Bàn phím điện thoại tại thị trường Nhật Bản

Càng ngày, thế hệ trẻ của Nhật Bản càng quen thuộc với việc nhắn tin ngắn gọn đang và sẽ thay đổi cách viết của tiếng Nhật.

❓Bạn có biết?

Tiếng Nhật đặc biệt có sự hiện diện của hệ thống chữ tượng hình Kanji – Hán tự. Một kí tự trong tiếng Nhật vì thế có thể hàm chứa nhiều ý nghĩa hơn một từ viết bằng hệ la-tinh. Trong cùng một giới hạn số lượng ký tự, tiếng Nhật có thể truyền tải nhiều thông tin hơn rất nhiều so với các ngôn ngữ hệ la-tinh phổ biến như tiếng Anh hay Pháp.

Tiếng Nhật Nha Trang

Tóm lại, chữ viết tiếng Nhật xuất phát từ chữ viết tượng hình của Trung Quốc mặc dù phát âm hoàn toàn khác biệt. Bên cạnh đó, người Nhật bản cũng đã sáng tạo ra thêm 2 bảng chữ kana của mình bắt nguồn từ chữ tiếng Trung. Mỗi bảng chữ cái kana lại có một mục đích sử dụng riêng và diễn tả gần như đầy đủ các từ trong tiếng Nhật. Ngoài ra, một số từ tiếng mượn từ nước ngoài cũng được người Nhật linh hoạt sử dụng để bổ sung từ điển của mình. Đối với người Nhật, đơn giản càng tốt trong cả cách nói hoặc viết tiếng Nhật, bằng chứng là họ bỏ bớt chủ vị ngữ trong câu tùy hoàn cảnh hoặc là dùng thay thế bằng những icon trong tin nhắn để thay thế chữ viết.

đăng ký sử dụng dịch vụ của chúng tôi


YUKATA – THỜI TRANG HÈ NHẬT BẢN

Kimono là một loại trang phục truyền thống của Nhật Bản với nhiều biến thể cho những dịp trang trọng, thường ngày hoặc đi chơi. Ngày nay, ngoại trừ kinomo bằng lụa dành cho những dịp trang trọng và rất hiếm khi xuất hiện. Lý do là vì so với những trang phục tây âu…

GETA – DÉP GỖ TRUYỀN THỐNG NHẬT BẢN

Geta là tên gọi một loại dép bằng gỗ truyền thống của Nhật Bản. Nó gắn liền với trang phục kinomo tuy nhiên cả nam và nữ đều có thể dùng nó. Hình dáng của nó khá là dễ thương và nếu bạn còn nhớ hình ảnh geta trong truyện tranh hay phim của Nhật…

OBON- LINH HỒN CỦA MÙA HÈ NHẬT BẢN

Thường xuyên xuất hiện trong các bộ phim Nhật Bản vâng chính là lễ hội obon. Đây cũng là một lễ hội có thật, đóng vai trò quan trọng trong văn hóa Nhật và thu hút đông đảo khách du lịch Nhật bản tham dự vào mỗi độ cuối hè đầu thu. Nguồn gốc: Lễ…


MỘT SỐ HÌNH ẢNH CỦA LỚP HỌC CÙNG MAI SENSEI